Herceptin 150mg Roche 1 lọ (Trastuzumab)
* Hình sản phẩm có thể thay đổi theo thời gian
** Giá sản phẩm có thể thay đổi tuỳ thời điểm
30 ngày trả hàng Xem thêm
Các sản phẩm được đóng gói và bảo quản an toàn.
Số đăng ký: 001410036723
Cách tra cứu số đăng ký thuốc được cấp phépTìm thuốc Trastuzumab khác
Tìm thuốc cùng thương hiệu F.Hoffmann-La Roche., Ltd khác
Thuốc này được bán theo đơn của bác sĩ
Gửi đơn thuốc Giao nhanh thuốc trong 2H nội thành HCM
Bạn muốn nhận hàng trước 4h hôm nay. Đặt hàng trong 55p tới và chọn giao hàng 2H ở bước thanh toán. Xem chi tiết
Thông tin sản phẩm
| Số đăng ký: | 001410036723 |
| Hoạt chất: | |
| Quy cách đóng gói: | |
| Thương hiệu: | |
| Xuất xứ: | |
| Thuốc cần kê toa: | |
| Dạng bào chế: | |
| Hàm Lượng: | |
| Nhà sản xuất: | |
| Tiêu chuẩn: |
Nội dung sản phẩm
Thành phần
- Trastuzumab: 150mg
Công dụng (Chỉ định)
Herceptin IV/SC:
- Ung thư vú
- Ung thư vú di căn (MBC)
Herceptin được chỉ định để điều trị bệnh nhân ung thư vú di căn có khối u bộc lộ quá mức HER2:
a) Dưới dạng đơn trị cho những bệnh nhân đã được điều trị bằng một hay nhiều phác đồ hóa trị cho bệnh ung thư di căn của họ.
b) Kết hợp với paclitaxel hoặc docetaxel để điều trị những bệnh nhân chưa được dùng hóa trị cho bệnh ung thư di căn của họ.
c) Kết hợp với thuốc ức chế aromatase để điều trị những bệnh nhân ung thư vú di căn có thụ thể hormone dương tính.
Ung thư vú giai đoạn sớm (EBC):
Herceptin được chỉ định điều trị ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính:
a) Sau phẫu thuật, hóa trị (bổ trợ trước phẫu thuật hoặc sau phẫu thuật) và xạ trị (nếu có).
b) Kết hợp với paclitaxel hoặc docetaxel trong điều trị bổ trợ sau hóa trị với doxorubicin và cyclophosphamide.
c) Kết hợp hỗ trợ với hóa trị liệu có sử dụng docetaxel và carboplatin.
d) Kết hợp với hóa trị liệu để điều trị bổ trợ trước phẫu thuật và bổ trợ sau phẫu thuật bằng Herceptin, trên bệnh nhân ung thư vú tiến triển tại chỗ (bao gồm cả viêm) hoặc có khối u đường kính > 2 cm.
Herceptin IV:
Ung thư dạ dày di căn
- Herceptin kết hợp với capecitabine hoặc 5-fluorouracil truyền tĩnh mạch và cisplatin được chỉ định để điều trị bệnh nhân ung thư dạ dày hoặc ung thư miệng nối dạ dày-thực quản di căn có HER2 dương tính mà trước đó chưa được điều trị chống ung thư cho bệnh ung thư di căn của họ.
Liều dùng
Tổng thể:
- Cần phải xét nghiệm thử HER2 trước khi điều trị với Herceptin. Thay thế Herceptin bằng một thuốc sinh học khác cần có sự đồng ý của bác sĩ kê toa. Cần thận trọng khi không có dữ liệu hỗ trợ cho việc thay thế lẫn nhau của Herceptin và một thuốc sinh học khác.
- Herceptin phải được truyền bởi một chuyên gia chăm sóc sức khỏe đủ điều kiện.
- Điều quan trọng là kiểm tra nhãn sản phẩm để đảm bảo rằng thuốc được sử dụng đúng dạng bào chế (Herceptin truyền tĩnh mạch IV hay Herceptin tiêm dưới da SC) với đơn thuốc kê cho bệnh nhân.
- Việc chuyển đổi điều trị từ Herceptin IV sang dùng Herceptin SC và ngược lại, sử dụng liệu trình dùng thuốc mỗi 3 tuần, đã được điều tra trong nghiên cứu MO22982 (xem phần Tác dụng không mong muốn/ Thử nghiệm lâm sàng).
- Để ngăn chặn rủi ro khi dùng thuốc, điều quan trọng là kiểm tra nhãn lọ để đảm bảo rằng thuốc đang được chuẩn bị và được dùng là Herceptin (trastuzumab) và không phải là Kadcyla (trastuzumab emtansine).
Herceptin IV (xem phần Dược lý):
- Herceptin IV không dùng để tiêm dưới da mà nên dùng bằng đường truyền tĩnh mạch.
- Không được tiêm tĩnh mạch nhanh hoặc truyền nhanh.
Lịch truyền hàng tuần:
- Liều tải: Liều tải khởi đầu được khuyến cáo là 4 mg/kg trọng lượng cơ thể truyền tĩnh mạch trong 90 phút Herceptin IV.
- Liều kế tiếp: Liều khuyến cáo mỗi tuần của Herceptin IV là 2 mg/kg trọng lượng cơ thể. Nếu liều dùng trước đó được dung nạp tốt, có thể truyền trong 30 phút.
Lịch truyền mỗi 3 tuần:
- Liều tải khởi đầu của Herceptin IV là 8 mg/kg trọng lượng cơ thể, 3 tuần sau là 6 mg/kg trọng lượng cơ thể và sau đó lặp lại liều 6 mg/kg trọng lượng cơ thể mỗi 3 tuần, truyền tĩnh mạch trong khoảng 90 phút. Nếu liều trước đó được dung nạp tốt, có thể truyền tĩnh mạch một liều trong khoảng 30 phút.
Herceptin SC:
- Herceptin dạng tiêm dưới da không dành cho truyền tĩnh mạch và chỉ được tiêm dưới da.
- Không cần dùng liều tải.
- Liều cố định được khuyến cáo của Herceptin SC là 600 mg không kể cân nặng của bệnh nhân.
- Vùng tiêm nên được thay đổi giữa đùi trái và đùi phải. Chỗ tiêm mới nên cách vùng tiêm cũ tối thiểu 1 inch/2,5 cm và không tiêm vào vùng da đỏ, thâm tím, nhạy cảm hoặc thô cứng. Trong suốt quá trình điều trị Herceptin, các thuốc tiêm dưới da khác nên được tiêm ở những vùng da khác nhau.
- Khi sử dụng dạng tiêm dưới da, thuốc có thể được tiêm trong khoảng 2-5 phút, mỗi 3 tuần một lần.
Liệu trình điều trị:
- Bệnh nhân ung thư vú di căn nên được điều trị bằng Herceptin cho đến khi bệnh tiến triển hoặc gặp tác dụng phụ không quản lý được.
- Bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm nên được điều trị trong 1 năm hoặc cho đến khi bệnh tái phát hoặc gặp tác dụng phụ không quản lý được, tùy theo yếu tố nào xảy đến trước. Kéo dài thời gian điều trị hơn 1 năm ở bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm không được khuyến khích.
- Bệnh nhân ung thư dạ dày tiến triển nên được điều trị bằng Herceptin IV cho đến khi bệnh tiến triển.
Quên liều:
Herceptin IV:
- Nếu bệnh nhân quên liều của Herceptin IV khoảng 1 tuần hoặc ít hơn, nên dùng liều thường lệ của trastuzumab (2 mg/kg phác đồ hàng tuần; 6 mg/kg phác đồ 3 tuần) càng sớm càng tốt. Không nên chờ cho đến liều kế tiếp như đã định. Liều Herceptin IV duy trì kế tiếp nên dùng 7 ngày hoặc 21 ngày sau đó theo liệu trình hàng tuần hoặc 3 tuần tương ứng.
- Nếu bệnh nhân quên liều của Herceptin IV nhiều hơn một tuần, nên lặp lại liều tải Herceptin IV trong khoảng 90 phút (4 mg/kg phác đồ hàng tuần; 8 mg/kg phác đồ 3 tuần) sớm nhất có thể. Liều Herceptin IV duy trì kế tiếp (2 mg/kg phác đồ hàng tuần, 6 mg/kg phác đồ 3 tuần) nên dùng 7 ngày hoặc 21 ngày sau đó theo liệu trình hàng tuần hoặc 3 tuần tương ứng.
Herceptin SC:
- Nếu quên một liều Herceptin SC, nên sử dụng liều 600 mg tiếp theo (tức liều bị quên) càng sớm càng tốt. Khoảng cách giữa các liều Herceptin SC tiếp theo không được ít hơn ba tuần.
Điều chỉnh liều:
- Nếu bệnh nhân gặp phản ứng liên quan đến tiêm truyền (IRR), có thể giảm tốc độ tiêm truyền Herceptin IV hoặc dừng lại (xem mục Cảnh báo và thận trọng).
- Liều Herceptin không được giảm trong các nghiên cứu lâm sàng. Bệnh nhân có thể tiếp tục được điều trị với Herceptin trong khoảng thời gian ức chế tủy do hóa trị liệu có thể hồi phục, nhưng cũng nên theo dõi cẩn thận những biến chứng giảm bạch cầu trung tính ở bệnh nhân trong thời gian này. Cần tuân thủ những hướng dẫn đặc biệt về việc giảm hay giữ nguyên liều hóa trị liệu.
Các hướng dẫn sử dụng liều đặc biệt:
- Người già: Các dữ liệu cho thấy đặc tính dược động của Herceptin không bị biến đổi theo tuổi (xem phần Dược lý – Dược động học trên những đối tượng đặc biệt). Trong những nghiên cứu lâm sàng, không giảm liều Herceptin ở những bệnh nhân ≥ 65 tuổi.
- Trẻ em: Hiệu quả và độ an toàn của Herceptin ở các bệnh nhi < 18 tuổi chưa được xác định.
Cách dùng
Các hướng dẫn đặc biệt về sử dụng, thao tác và thải bỏ:
Herceptin IV:
Nên sử dụng kỹ thuật vô trùng thích hợp.
Lọ Herceptin 150 mg được pha với 7,2 mL nước vô trùng để tiêm.
Nên thao tác cẩn thận trong khi pha Herceptin. Tạo nhiều bọt trong khi pha hoặc lắc dung dịch Herceptin sau khi pha có thể gây khó khăn cho việc rút đúng lượng Herceptin ra khỏi lọ.
(1). Dùng một bơm tiêm vô trùng, tiêm chậm 7,2 mL nước vô trùng để pha dung dịch tiêm vào ống thuốc có bột Herceptin đông khô, bơm thẳng vào khối bột đông khô.
(2). Xoay vòng lọ thuốc một cách nhẹ nhàng để giúp hòa tan. KHÔNG ĐƯỢC LẮC!
Có thể thấy ít bọt xuất hiện sau khi pha. Để yên ống thuốc khoảng 5 phút. Dung dịch Herceptin sau khi pha là dung dịch trong suốt không màu đến màu vàng nhạt và về cơ bản là không nhìn thấy cặn.
Hướng dẫn pha loãng:
Xác định thể tích dung dịch cần truyền dựa trên
- Liều tải 4 mg trastuzumab/kg trọng lượng cơ thể, hay liều duy trì 2 mg trastuzumab/kg trọng lượng cơ thể:
- Thể tích (mL) = [Trọng lượng cơ thể (kg) x liều (4 mg/kg với liều tải hoặc 2 mg/kg với liều duy trì)] / 21 (mg/mL, nồng độ dung dịch sau khi pha)
- Liều tải 8 mg trastuzumab/kg trọng lượng cơ thể, hay liều duy trì 6 mg trastuzumab/kg trọng lượng cơ thể mỗi ba tuần:
- Thể tích (mL) = [Trọng lượng cơ thể (kg) x liều (8 mg/kg với liều tải hoặc 6 mg/kg với liều duy trì)] / 21 (mg/mL, nồng độ dung dịch sau khi pha)
- Lượng thuốc pha thích hợp nên được rút ra khỏi lọ thuốc và cho vào túi dịch truyền có chứa 250 mL chloride natri 0,9%. Không nên sử dụng dung dịch Dextrose (5%) (xem phần Tương kỵ). Nhẹ nhàng dốc ngược túi dịch truyền để hòa tan dung dịch mà không tạo bọt. Phải quan sát bằng mắt các sản phẩm thuốc tiêm truyền để phát hiện các mảnh cặn và hiện tượng đổi màu trước khi sử dụng. Nên sử dụng ngay sau khi đã chuẩn bị xong dịch truyền (xem phần Bảo quản).
Herceptin SC:
- Nên sử dụng kỹ thuật vô trùng thích hợp.
- Dung dịch 600mg/5mL là dung dịch đóng sẵn để tiêm mà không cần phải pha loãng.
- Herceptin nên được kiểm tra bằng mắt để đảm bảo không có cặn hoặc biến màu trước khi sử dụng.
- Dung dịch tiêm Herceptin chỉ dùng một lần.
- Khi chuyển từ lọ sang bơm tiêm, thuốc phải được sử dụng ngay lập tức, theo quan điểm vi sinh vật, vì thuốc không chứa chất bảo quản chống nhiễm khuẩn. Nếu thuốc không được sử dụng ngay, việc chuẩn bị phải tiến hành trong điều kiện vô trùng có kiểm soát và được công nhận. Sau khi chuyển từ lọ sang bơm tiêm, thuốc có thể ổn định về mặt vật lý và hóa học trong 48 giờ ở nhiệt độ 2oC-8oC và sau 6 giờ ở nhiệt độ môi trường (không bảo quản trên 30oC) trong điều kiện tiếp xúc với ánh sáng ban ngày. Thời gian thuốc ở nhiệt độ môi trường này không được tính tích lũy với thời gian trước đó ở nhiệt độ phòng của lọ thuốc (xem mục Bảo quản).
- Sau khi chuyển dung dịch sang bơm tiêm, nên thay kim tiêm lấy thuốc bằng một kim tiêm có nắp đậy để tránh làm khô dung dịch thuốc và không làm giảm chất lượng của thuốc. Kim tiêm dưới da phải được gắn vào bơm tiêm ngay trước khi dùng thuốc và sau khi điều chỉnh thể tích đúng 5 mL.
Xử lý các loại thuốc không được sử dụng:
Những điểm sau đây cần phải được nghiêm chỉnh chấp hành liên quan đến việc sử dụng và xử lý các ống tiêm và thuốc vật sắc nhọn khác:
- Bơm kim tiêm không bao giờ được tái sử dụng.
- Đặt tất cả các kim và ống tiêm đã qua sử dụng vào một hộp chứa đồ sắc nhọn (thùng chứa chống đâm thủng dùng một lần).
Quá liều
- Herceptin truyền tĩnh mạch (IV): Không có kinh nghiệm về hiện tượng quá liều trong các thử nghiệm lâm sàng trên người. Liều đơn trên 10 mg/kg chưa được thử nghiệm.
- Herceptin tiêm dưới da (SC): Liều duy nhất lên đến 960 mg đã được sử dụng mà không có tác dụng không mong muốn nào được báo cáo.
Không sử dụng trong trường hợp sau (Chống chỉ định)
- Herceptin được chống chỉ định ở những bệnh nhân mẫn cảm với trastuzumab hoặc với bất kỳ thành phần nào của thuốc.
Tác dụng không mong muốn (Tác dụng phụ)
Từ các thử nghiệm lâm sàng
Bảng 10 tóm tắt những phản ứng bất lợi (ADRs) đã được báo cáo trong sử dụng của Herceptin đơn trị hoặc kết hợp với hóa trị liệu trong các thử nghiệm lâm sàng then chốt.
Do Herceptin thường được sử dụng với các tác nhân hóa trị liệu và xạ trị nên thường rất khó để xác định mối quan hệ nhân quả của một phản ứng bất lợi với một loại thuốc riêng biệt/xạ trị.
Mức tần số tương ứng cho mỗi phản ứng bất lợi dựa trên quy ước sau: Rất hay gặp (≥ 1/10), hay gặp (≥ 1/100 đến < 1/10), ít gặp (≥ 1/1.000 đến < 1/100), hiếm gặp (≥ 1/10.000 đến < 1/1.000), rất hiếm gặp (< 1/10.000), chưa được biết (không thể ước tính được từ các dữ liệu sẵn có). Trong mỗi nhóm phản ứng bất lợi được sắp xếp theo mức độ nghiêm trọng giảm dần.
Xem Bảng 10:

Các thông tin khác liên quan đến các phản ứng phụ đặc biệt
Phản ứng liên quan tới tiêm truyền (IRRs/ARRs) và quá mẫn:
- IRRs/ARRs như ớn lạnh và/ hoặc sốt, khó thở, hạ huyết áp, thở khò khè, co thắt phế quản, nhịp tim nhanh, giảm độ bão hòa oxy và suy hô hấp đã được thấy trong tất cả các thử nghiệm lâm sàng với dạng IV và SC (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
- Về mặt lâm sàng, IRRs/ARRs có thể khó phân biệt với các phản ứng quá mẫn khác.
- Tỷ lệ IRRs/ARRs ở tất cả các mức độ khác nhau giữa các nghiên cứu phụ thuộc vào chỉ định, cho dù trastuzumab được dùng kết hợp với hóa trị liệu hay đơn trị liệu và phương pháp thu thập dữ liệu.
- Trong MBC, tỷ lệ IRR dao động từ 49% đến 54% ở nhóm có dùng trastuzumab so với 36% đến 58% ở nhóm so sánh (có thể chứa hóa trị liệu khác). IRR nặng (mức độ 3 và cao hơn) dao động từ 5% đến 7% ở nhóm dùng trastuzumab so với 5 đến 6% trong nhóm so sánh.
- Trong EBC, tỷ lệ IRRs/ARRs dao động từ 18% đến 54% ở nhóm dùng trastuzumab so với 6% đến 50% ở nhóm so sánh (có thể chứa hóa trị liệu khác). IRR nặng (mức độ 3 và cao hơn) dao động từ 0,5% đến 6% ở nhóm có dùng trastuzumab so với 0,3 đến 5% trong nhóm so sánh.
- Trong điều trị bổ trợ trước và sau phẫu thuật (BO22227), tỷ lệ IRRs/ARRs là tương tự với ở trên và dao động từ 37,2% ở nhóm IV đến 47,8% ở nhóm SC. IRRs/ARRs nặng (mức độ 3) là 2,0% và 1,7%, tương ứng với nhóm Herceptin IV và SC trong giai đoạn điều trị. Không có IRRs/ARRs mức độ 4 hoặc 5.
- Phản ứng phản vệ đã được quan sát trong vài trường hợp cá biệt.
Rối loạn chức năng tim:
- Suy tim sung huyết (độ II-IV theo phân loại NYHA) là phản ứng bất lợi thường gặp của Herceptin. Phản ứng bất lợi này có thể dẫn đến tử vong. Các dấu hiệu và triệu chứng của rối loạn chức năng tim như khó thở, khó thở khi nằm nghỉ, ho nhiều, phù phổi, S3 phi nước đại, hoặc giảm phân suất tống máu, đã được quan sát thấy ở những bệnh nhân được điều trị với Herceptin (xem phần Cảnh báo và thận trọng).
Ung thư vú di căn:
- Tùy thuộc vào các tiêu chuẩn được sử dụng để xác định rối loạn chức năng tim, tỷ lệ mắc trong các thử nghiệm ung thư vú di căn trong khoảng từ 9% và 12% trong nhóm Herceptin + paclitaxel, so với 1%-4% nhóm đơn trị paclitaxel. Đối với đơn trị liệu Herceptin, tỷ lệ là 6%-9%. Tỷ lệ cao nhất của rối loạn chức năng tim được thấy ở những bệnh nhân dùng đồng thời Herceptin + anthracycline/ cyclophosphamide (27%), cao hơn đáng kể trong nhóm đơn trị anthracycline/cyclophosphamide (7%-10%). Trong một thử nghiệm tiếp theo với giám sát rối loạn chức năng tim tiềm năng, tỷ lệ rối loạn chức năng tim có triệu chứng là 2,2% ở những bệnh nhân dùng Herceptin kết hợp với docetaxel, so với 0% ở những bệnh nhân đơn trị docetaxel. Hầu hết các bệnh nhân (79%) xuất hiện suy tim trong các thử nghiệm đã tiến triển tốt sau khi được điều trị tiêu chuẩn cho suy tim sung huyết (CHF).
Ung thư vú giai đoạn sớm (điều trị bổ trợ sau phẫu thuật):
- Trong ba thử nghiệm lâm sàng then chốt sử dụng trastuzumab bổ trợ sau phẫu thuật kết hợp với hóa trị liệu, tỷ lệ xuất hiện suy tim mức độ 3/4 (CHF có triệu chứng) cũng tương tự như ở các bệnh nhân chỉ điều trị hóa trị và ở những bệnh nhân được điều trị với Herceptin và tiếp theo là một taxan (0,3-0,4%). Tỷ lệ này cao nhất ở những bệnh nhân được sử dụng Herceptin đồng thời với một taxan (2,0%). Tại thời điểm 3 năm, tỷ lệ biến cố tim ở bệnh nhân được điều trị AC → P (doxorubicin cộng với cyclophosphamide tiếp theo là paclitaxel) + H (trastuzumab) được ước tính khoảng 3,2%, so với 0,8% trong nhóm AC → P. Khi tiếp tục theo dõi tới 5 năm không thấy tăng tỷ lệ tích lũy của các biến cố tim mạch trên các bệnh nhân.
- Tại thời điểm 5,5 năm, tỷ lệ có triệu chứng tim hoặc LVEF là 1,0%, 2,3%, và 1,1% với nhóm AC → D (doxorubicin cộng với cyclophosphamide, tiếp theo là docetaxel), nhóm AC → DH (doxorubicin cộng với cyclophosphamide, theo sau bởi docetaxel cộng với trastuzumab), và nhóm DCarbH (docetaxel, carboplatin và trastuzumab) tương ứng. Đối với CHF triệu chứng (phân loại NCI-CTC mức độ 3-4), tỷ lệ tại 5 năm là 0,6%, 1,9% và 0,4% trong nhóm AC → D, nhóm AC → DH, và nhóm điều trị DCarbH, tương ứng. Nguy cơ tổng thể của bệnh tim có triệu chứng là thấp và tương tự cho các bệnh nhân trong nhóm AC → D và nhóm DCarbH, liên quan đến hai nhóm AC → D và DCarbH có tăng nguy cơ xuất hiện bệnh tim có triệu chứng cho bệnh nhân trong nhóm AC → DH, thấy rõ một sự gia tăng liên tục trong tỷ lệ tích lũy của bệnh tim có triệu chứng hoặc LVEF lên đến 2,3% so với khoảng 1% khi so sánh hai nhóm (AC → D và DCarbH).
- Khi Herceptin được sử dụng sau khi hoàn thành hóa trị bổ trợ NYHA, suy tim độ III-IV đã được quan sát thấy trong 0,6% bệnh nhân trong nhóm theo dõi sau một năm điều trị, trung vị thời gian theo dõi là 12 tháng. Sau khi theo dõi trung bình 3,6 năm tỷ lệ CHF nặng và rối loạn chức năng thất trái sau 1 năm điều trị Herceptin vẫn ở mức thấp là 0,8% và 9,8%, tương ứng.
- Trong nghiên cứu BO16348, sau trung vị thời gian theo dõi là 8 năm, tỷ lệ xuất hiện suy tim sung huyết nặng (độ III-IV theo phân loại NYHA) sau khi sử dụng Herceptin 1 năm là 0,8% và tỷ lệ suy chức năng thất trái có triệu chứng nhẹ và không triệu chứng là 4,6%.
- Sự hồi phục suy tim sung huyết nghiêm trọng (được định nghĩa là một loạt đo giá trị LVEF có ít nhất 2 giá trị liên tục ≥ 50% sau biến cố) được quan sát thấy ở 71,4% bệnh nhân sử dụng Herceptin. Sự hồi phục suy chức năng thất trái có triệu chứng nhẹ hoặc không triệu chứng được quan sát thấy ở 79,5% số bệnh nhân. Khoảng 17% kết cuộc tim mạch xảy ra khi hoàn tất điều trị với Herceptin.
- Trong phân tích gộp của các nghiên cứu NSABP B-31 và NCCTG N9831, với thời gian theo dõi trung vị 8,1 năm cho nhóm AC → PH (doxorubicin kết hợp với cyclophosphamide, tiếp theo là dùng paclitaxel kết hợp trastuzumab), tần suất khởi phát các trường hợp rối loạn chức năng thất trái, xác định bởi LVEF, là không thay đổi so với phân tích được thực hiện ở nhóm AC → PH với thời gian theo dõi trung vị là 2 năm: 18,5% bệnh nhân ở nhóm AC → PH có LVEF giảm từ ≥ 10% đến dưới 50%. Đã có báo cáo về phục hồi rối loạn chức năng thất trái: trên 64,5% bệnh nhân, những người có triệu chứng của suy tim sung huyết ở nhóm AC → PH đã chuyển sang nhóm không triệu chứng vào cuối giai đoạn theo dõi, và 90,3% có sự hồi phục một phần hoặc hoàn toàn giá trị LVEF.
Ung thư vú giai đoạn sớm (điều trị bổ trợ trước và sau phẫu thuật):
- Trong thử nghiệm then chốt MO16432, Herceptin được dùng đồng thời với liệu pháp hóa trị tân bổ trợ gồm 3 chu kỳ doxorubicin (liều tích lũy 180 mg/m2). Tỷ lệ rối loạn chức năng tim có triệu chứng là 1,7% ở nhóm dùng Herceptin.
- Trong thử nghiệm then chốt BO22227, Herceptin được dùng đồng thời với liệu pháp hóa trị tân bổ trợ gồm 4 chu kỳ epirubicin (liều tích lũy 300 mg/m2); trung vị theo dõi là hơn 70 tháng, tỷ lệ suy tim sung huyết là 0% ở nhóm Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) và 0,7% ở nhóm Herceptin tiêm dưới da (SC). Ở những bệnh nhân có mức cân nặng thấp (tứ phân vị trọng lượng cơ thể thấp nhất: < 59 kg), liều cố định Herceptin tiêm dưới da (SC) không liên quan đến việc làm tăng nguy cơ xuất hiện biến cố trên tim hoặc làm giảm đáng kể phân suất tống máu thất trái (LVEF).
Ung thư dạ dày tiến triển:
- Trong nghiên cứu BO18255, lúc tầm soát, giá trị LVEF trung vị là 64% (trong khoảng 48%-90%) trong nhóm điều trị với Fluoropyrimidine/Cisplatin (FP) và 65% (trong khoảng 50%-86%) trong nhóm Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) cộng với Fluoropyrimidine/Cisplatin (H+FP).
- Phần lớn các tình huống giảm LVEF được ghi nhận trong BO18255 là không triệu chứng, ngoại trừ một bệnh nhân trong nhóm có sử dụng Herceptin có LVEF giảm cùng lúc với suy tim.
Xem Bảng 11 - 12:

Nhìn chung, không có sự khác nhau có ý nghĩa về sự bất thường chức năng tim giữa nhóm điều trị và nhóm so sánh.
Độc tính trên hệ tạo huyết
Ung thư vú:
Độc tính trên hệ tạo máu không thường gặp khi sử dụng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) đơn trị trong bệnh cảnh di căn, giảm bạch cầu, tiểu cầu và thiếu máu mức độ 3 theo tiêu chuẩn WHO xảy ra < 1% các bệnh nhân. Không ghi nhận được độc tính mức độ 4 theo tiêu chuẩn WHO. Độc tính trên hệ tạo huyết mức độ 3 và 4 theo tiêu chuẩn WHO tăng ở nhóm bệnh nhân sử dụng Herceptin và paclitaxel so với nhóm chỉ sử dụng paclitaxel đơn trị (34% so với 21%). Độc tính trên hệ tạo huyết cũng đồng thời tăng ở những bệnh nhân sử dụng Herceptin và docetaxel, so với docetaxel đơn trị (giảm bạch cầu hạt mức độ 3/4 32% so với 22%, sử dụng tiêu chuẩn NCI-CTC).
Tỷ lệ sốt giảm bạch cầu hạt/ nhiễm trùng huyết do giảm bạch cầu cũng tăng cao ở những bệnh nhân điều trị với Herceptin + docetaxel (23% so với 17% ở nhóm bệnh nhân điều trị docetaxel đơn trị).
Sử dụng tiêu chuẩn NCI-CTC, trong nghiên cứu BO16348, 0,4% số bệnh nhân điều trị với Herceptin gặp biến cố bất lợi mức độ 3 hoặc 4, so với 0,6% trong nhóm quan sát.
Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa:
Biến cố bất lợi hay được báo cáo nhất, mức độ ≥ 3 diễn ra với tỷ lệ ít nhất là 1% trong điều trị theo nghiên cứu, được xếp loại dưới nhóm Những Rối Loạn Hệ Máu và Bạch Huyết được liệt kê trong bảng 13.
Xem Bảng 13:

Tổng tỷ lệ bệnh nhân có phản ứng bất lợi ≥ mức độ 3 NCI-CTCAE v3.0 được xếp loại là 38% trong nhánh FP và 40% trong nhóm H+FP.
Toàn bộ, không có sự khác biệt có ý nghĩa về độc tính trên hệ tạo huyết giữa nhóm điều trị và nhóm nghiên cứu.
Độc tính trên gan và thận:
Ung thư vú:
- Độc tính trên gan mức độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn WHO được quan sát thấy ở 12% số bệnh nhân sau sử dụng Herceptin IV đơn trị, trong bệnh cảnh di căn. Độc tính này liên quan đến sự diễn tiến bệnh ở gan trong 60% các trường hợp.
- Độc tính trên gan mức độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn WHO ít được quan sát thấy ở bệnh nhân sau sử dụng Herceptin IV và paclitaxel hơn là paclitaxel đơn trị (7% so với 15%). Độc tính trên thận mức độ 3 hoặc 4 theo tiêu chuẩn WHO không được quan sát thấy.
Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa:
- Trong nghiên cứu BO18255, không có sự khác nhau có ý nghĩa về độc tính trên gan và thận được quan sát thấy giữa hai nhóm điều trị.
- Độc tính trên thận mức độ ≥ 3 theo NCI-CTCAE (phiên bản 3.0) không cao hơn có ý nghĩa trong nhóm bệnh nhân dùng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) so với nhóm dùng FP (lần lượt là 3% và 2%).
- Rối loạn hệ gan mật (tăng bilirubin máu) grade ≥ 3 theo NCI-CTCAE (phiên bản 3.0) là biến cố bất lợi duy nhất được báo cáo và không cao hơn có ý nghĩa ở những bệnh nhân dùng Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) so với nhóm bệnh nhân trong nhánh FP (lần lượt là 1% và < 1%).
Tiêu chảy:
Ung thư vú:
- Tiêu chảy được quan sát thấy ở 27% số bệnh nhân sau sử dụng Herceptin IV đơn trị, trong bệnh cảnh di căn. Sự gia tăng tỷ lệ bệnh nhân bị tiêu chảy, lúc đầu có mức độ nhẹ đến vừa, cũng được quan sát thấy ở những bệnh nhân điều trị Herceptin phối hợp với paclitaxel so với bệnh nhân dùng paclitaxel đơn trị.
- Trong nghiên cứu BO16348, 8% số bệnh nhân dùng Herceptin bị tiêu chảy trong năm điều trị đầu tiên.
Ung thư dạ dày giai đoạn tiến xa:
- Trong nghiên cứu BO18255, 109 bệnh nhân (37%) tham gia vào nhóm điều trị có Herceptin IV so với 80 bệnh nhân (28%) trong nhóm so sánh bị tiêu chảy ở mọi mức độ. Sử dụng tiêu chuẩn về độ nặng của NCI-CTCAE (v3.0), tỷ lệ bệnh nhân bị tiêu chảy mức độ ≥ 3 là 4% trong nhóm FP so với 9% trong nhóm H+FP.
Nhiễm trùng:
- Người ta cũng thấy có tăng tỷ lệ nhiễm trùng, chủ yếu là nhiễm trùng nhẹ đường hô hấp trên ít có ý nghĩa lâm sàng hoặc nhiễm trùng ống thông ở những bệnh nhân được điều trị với Herceptin.
Chuyển đổi điều trị từ Herceptin truyền tĩnh mạch sang Herceptin tiêm dưới da và ngược lại:
- Nghiên cứu MO22982 đánh giá khả năng chuyển đổi giữa Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) sang Herceptin tiêm dưới da (SC) và ngược lại, trên những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính, với mục tiêu chính là đánh giá mức độ ưa thích của bệnh nhân với trastuzumab truyền tĩnh mạch hoặc tiêm dưới da. Trong thử nghiệm này, 2 nhóm bệnh nhân (một nhóm dùng Herceptin lọ tiêm dưới da và một nhóm dùng Herceptin tiêm dưới da qua dụng cụ hỗ trợ SID) được theo dõi với thiết kế nghiên cứu 2 nhóm, bắt chéo, trong đó bệnh nhân được phân nhóm ngẫu nhiên vào 1 trong 2 liệu trình điều trị Herceptin mỗi 3 tuần (truyền tĩnh mạch (liệu trình 1-4) → tiêm dưới da (liệu trình 5-8), hoặc tiêm dưới da (liệu trình 1-4) → truyền tĩnh mạch (liệu trình 5-8)). Bệnh nhân tham gia nghiên cứu thì hoặc chưa được điều trị bằng Herceptin truyền tĩnh mạch (20,3%) hoặc đã dùng Herceptin truyền tĩnh mạch trước đó (79,7%) như một phần của liệu pháp hỗ trợ cho các trường hợp ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính. Đối với chuỗi IV → SC (lọ SC và công thức SC trong hệ tiêm truyền kết hợp), tỷ lệ tác dụng phụ (tất cả các mức độ) đã được mô tả trước khi chuyển đổi (liệu trình 1-4) và sau khi chuyển đổi (liệu trình 5-8) là 53,8% và 56,4%, tương ứng; đối với chuỗi SC → IV (SC lọ và công thức SC trong hệ tiêm truyền kết hợp), tỷ lệ tác dụng phụ (tất cả các mức độ) đã được mô tả trước và sau khi chuyển đổi tương ứng là 65,4%, và 48,7%.
- Về tổng thể, việc chuyển đổi Herceptin truyền tĩnh mạch (IV) sang Herceptin tiêm dưới da (SC) và ngược lại tỏ ra dung nạp tốt. Tỷ lệ biến cố bất lợi nghiêm trọng, biến cố bất lợi độ 3 và số ca phải ngừng điều trị do các biến cố bất lợi trước khi chuyển đổi (liệu trình 1-4) ở mức thấp (< 5%), tương tự tỷ lệ này trong giai đoạn sau khi chuyển đổi (liệu trình 5-8). Không có các biến cố bất lợi độ 4 hoặc 5 được ghi nhận.
Độ an toàn và dung nạp của Herceptin dạng tiêm dưới da (SC) trên những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm:
- Nghiên cứu MO 28048 đánh giá độ an toàn và dung nạp của Herceptin dạng tiêm dưới da (SC) trong điều trị bổ trợ cho những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm có HER2 dương tính tham gia vào 2 nhóm hoặc sử dụng Herceptin lọ tiêm dưới da (SC) (N=1.868 bệnh nhân, bao gồm 20 bệnh nhân có điều trị tân bổ trợ) hoặc Herceptin tiêm dưới da có dùng dụng cụ hỗ trợ SID (SC SID) (N=710 bệnh nhân, bao gồm 21 bệnh nhân có điều trị tân bổ trợ). Tiền phân tích bao gồm những bệnh nhân có trung vị thời gian theo dõi lên đến 23,7 tháng. Không có tác dụng phụ mới được phát hiện. Kết quả này tương tự với dữ liệu an toàn đã được ghi nhận của Herceptin dạng truyền tĩnh mạch và dạng tiêm dưới da. Hơn nữa, điều trị cho những bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm (điều trị bổ trợ) có trọng lượng cơ thể thấp bằng Herceptin tiêm dưới da (SC) liều cố định không làm giảm độ an toàn, nguy cơ gặp những biến cố bất lợi và biến cố bất lợi nghiêm trọng, so với các bệnh nhân có trọng lượng cơ thể cao hơn. Kết quả cuối cùng của nghiên cứu BO22227 với trung vị thời gian theo dõi hơn 70 tháng (xem mục Dược lý – Nghiên cứu hiệu quả/lâm sàng) phù hợp độ an toàn đã biết đối với Herceptin IV và Herceptin SC và không có tác dụng phụ mới được phát hiện.
Kinh nghiệm sau khi lưu hành:
Bảng sau liệt kê các phản ứng bất lợi được xác định trong quá trình sau khi lưu hành Herceptin.
Xem Bảng 14:

Các biểu hiện bất thường khác:
Bảng 15 liệt kê các biểu hiện bất thường được ghi nhận trên những bệnh nhân đã sử dụng Herceptin. Vì không có các mối liên hệ có tính nhân quả của các biểu hiện này với việc sử dụng Herceptin nên các biểu hiện này không được liệt kê vào các báo cáo phản ứng bất lợi theo quy định.
Xem Bảng 15:

Thông báo cho bác sĩ những tác dụng không mong muốn gặp phải khi sử dụng thuốc.
Tương tác với các thuốc khác
- Không có các nghiên cứu về tương tác thuốc chính thức được tiến hành với Herceptin ở người. Chưa ghi nhận các tương tác thuốc có ý nghĩa lâm sàng với những thuốc sử dụng chung được dùng trong các thử nghiệm lâm sàng (xem phần Dược lý – Dược động học).
- Trong các nghiên cứu có sử dụng Herceptin cùng với docetaxel, carboplatin, hoặc anastrozole, dược động học của những thuốc này cũng như của trastuzumab đều không bị thay đổi.
- Nồng độ của paclitaxel và doxorubicin (và các chất chuyển hóa chính của chúng bao gồm: 6-α hydroxyl-paclitaxel, POH, và doxorubicinol, DOL) không bị thay đổi khi có mặt trastuzumab. Tuy nhiên, trastuzumab có thể làm tăng sự tiếp xúc tổng thể của chất chuyển hóa doxorubicin, (7-deoxy-13 dihydro-doxorubicinone, D7D). Hoạt tính sinh học của D7D và tác động lâm sàng của các chất chuyển hóa nồng độ cao này chưa rõ ràng. Không quan sát thấy sự thay đổi trong nồng độ của trastuzumab khi có mặt paclitaxel và doxorubicin.
- Kết quả của một nghiên cứu nhánh về tương tác thuốc nhằm đánh giá dược động học của capecitabine và cisplatin khi kết hợp hoặc không kết hợp với trastuzumab gợi ý rằng việc tiếp xúc với các chất chuyển hóa có hoạt tính sinh học (như 5-FU) của capecitabine không bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng đồng thời cisplatin, hoặc sử dụng đồng thời cisplatin và trastuzumab. Tuy nhiên capecitabine sẽ có nồng độ cao hơn và thời gian bán hủy dài hơn khi kết hợp với trastuzumab. Những dữ liệu cũng gợi ý rằng dược động học của cisplatin không bị ảnh hưởng bởi việc sử dụng đồng thời capecitabine, hoặc sử dụng đồng thời capecitabine và trastuzumab.
Lưu ý khi sử dụng (Cảnh báo và thận trọng)
Nhằm nâng cao khả năng theo dõi sự sử dụng các thuốc sinh học, thương hiệu và số lô của sản phẩm sử dụng nên được ghi rõ trong hồ sơ của bệnh nhân.
Chỉ nên điều trị bằng Herceptin dưới sự giám sát của các bác sĩ có kinh nghiệm trong việc điều trị các bệnh nhân ung thư.
Phản ứng liên quan tới tiêm truyền (IRRs)/ Phản ứng tại vị trí tiêm truyền (ARRs):
- IRRs/ARRs có thể xuất hiện khi sử dụng Herceptin (xem mục Tác dụng không mong muốn).
- Trên lâm sàng, IRRs/ARRs có thể khó phân biệt với các phản ứng do quá mẫn.
- Điều trị dự phòng có thể làm giảm nguy cơ xảy ra IRRs/ARRs.
- Những IRRs/ARRs nghiêm trọng của Herceptin bao gồm khó thở, hạ huyết áp, khò khè, co thắt phế quản, nhịp tim nhanh, giảm độ bão hòa oxy và suy hô hấp, nhịp nhanh trên thất và sẩn ban đã được báo cáo (xem phần Tác dụng không mong muốn). Bệnh nhân nên được theo dõi để phát hiện IRRs/ARRs. Ngừng truyền Herceptin IV có thể giúp kiểm soát các triệu chứng và việc truyền Herceptin có thể bắt đầu lại khi triệu chứng thuyên giảm. Những triệu chứng này có thể được điều trị bằng thuốc giảm đau/ hạ sốt như meperidine hoặc paracetamol, hoặc kháng histamin chẳng hạn như diphenhydramine.
- Những phản ứng nghiêm trọng được điều trị thành công với những liệu pháp hỗ trợ như oxy, thuốc chủ vận beta và các corticosteroid. Trong một số trường hợp hiếm gặp, những phản ứng này có thể gây tử vong. Những bệnh nhân có khó thở khi nghỉ ngơi do biến chứng của bệnh ác tính tiến triển hay bệnh đi kèm có thể bị tăng nguy cơ phản ứng gây tử vong do tiêm truyền. Do đó, những bệnh nhân này không nên điều trị bằng Herceptin.
Các biến cố về đường hô hấp:
- Các biến cố về đường hô hấp nghiêm trọng cũng đã được báo cáo khi sử dụng Herceptin sau khi thuốc lưu hành trên thị trường. Các biến cố hiếm gặp này đôi khi gây tử vong và có thể xảy ra như một phần của phản ứng liên quan tới tiêm truyền hoặc sẽ khởi phát muộn. Ngoài ra, các trường hợp bệnh phổi mô kẽ bao gồm thâm nhiễm phổi, hội chứng suy hô hấp cấp, viêm phổi nhiễm trùng, viêm phổi, tràn dịch màng phổi, suy hô hấp, phù phổi cấp và giảm chức năng hô hấp cũng đã được báo cáo.
- Yếu tố nguy cơ liên quan với bệnh phổi mô kẽ bao gồm các liệu pháp được dùng trước hoặc cùng lúc với các liệu pháp điều trị ung thư khác được biết có liên quan với phản ứng không mong muốn này như: taxane, gemcitabine, vinorelbine và điều trị xạ trị. Bệnh nhân khó thở lúc nghỉ do biến chứng của bệnh lý ác tính tiến xa và bệnh phối hợp có thể làm tăng nguy cơ biến cố ở phổi. Do đó những bệnh nhân này không nên điều trị bằng Herceptin.
Các biến cố tim mạch:
Thận trọng chung:
- Bệnh nhân điều trị với Herceptin có thể tăng nguy cơ dẫn đến suy tim sung huyết (theo phân loại của Hội Tim mạch New York [NYHA] từ độ II đến độ IV) hoặc rối loạn chức năng tim mạch không triệu chứng. Những biến cố này được ghi nhận trên những bệnh nhân điều trị với Herceptin đơn thuần hay kết hợp với taxane sau khi sử dụng hóa trị liệu bao gồm anthracycline (doxorubicin hoặc epirubicin). Suy tim có thể từ trung bình đến nặng và có thể dẫn đến tử vong (xem phần Tác dụng không mong muốn). Ngoài ra, nên thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân có nguy cơ tim mạch cao ví dụ tăng huyết áp, bệnh mạch vành, suy tim sung huyết, rối loạn chức năng tâm trương, người già.
- Giả lập mô hình dược động học quần thể cho thấy trastuzumab có thể tồn tại trong tuần hoàn đến 7 tháng sau khi dừng điều trị Herceptin IV hoặc Herceptin SC (xem mục Dược lý – Dược động học). Những bệnh nhân điều trị bằng anthracycline sau khi dừng Herceptin có thể gia tăng nguy cơ rối loạn chức năng tim mạch.
- Nếu có thể, bác sĩ nên tránh điều trị với phác đồ có anthracycline cho đến 7 tháng sau khi ngưng Herceptin. Nếu vẫn điều trị bằng anthracycline, nên theo dõi chặt chẽ chức năng tim mạch.
- Những người có chỉ định điều trị Herceptin, đặc biệt là những người được điều trị trước đó với anthracycline và cyclophosphamide (AC), nên được kiểm tra tim mạch bao gồm hỏi bệnh sử và khám lâm sàng, điện tâm đồ (ECG), và siêu âm tim hoặc MUGA scan. Việc theo dõi có thể giúp phát hiện những bệnh nhân có rối loạn chức năng tim, bao gồm cả những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh suy tim sung huyết. Đánh giá về tim mạch nên thực hiện thường quy 3 tháng một lần trong thời gian điều trị và 6 tháng một lần sau khi ngưng điều trị cho tới khi đạt 24 tháng sau lần sử dụng Herceptin cuối cùng.
- Nếu LVEF giảm 10 điểm phân suất tống máu so với lúc ban đầu và dưới 50%, nên tạm dừng Herceptin và đánh giá lại LVEF trong khoảng 3 tuần. Nếu LVEF không được cải thiện, hoặc giảm nhiều hơn, hoặc nếu dấu hiệu lâm sàng của bệnh suy tim sung huyết tăng lên, nên ngừng sử dụng Herceptin, trừ khi lợi ích điều trị cho cụ thể từng bệnh nhân cao hơn hẳn nguy cơ.
- Bệnh nhân có rối loạn chức năng tim nhưng không có triệu chứng có thể cần được theo dõi thường xuyên hơn (ví dụ mỗi 6-8 tuần). Nếu chức năng thất trái tiếp tục giảm, nhưng vẫn không có triệu chứng, thầy thuốc nên cân nhắc khả năng ngừng thuốc trừ phi lợi ích của việc điều trị cao hơn hẳn nguy cơ.
- Tính an toàn của việc tiếp tục hoặc tái điều trị Herceptin cho những bệnh nhân bị độc tính tim mạch chưa được khảo sát một cách tiền cứu. Nếu suy tim có triệu chứng xảy ra khi điều trị bằng Herceptin, nên áp dụng những phương pháp điều trị chuẩn cho suy tim. Trong những nghiên cứu lâm sàng then chốt, phần lớn các bệnh nhân có suy tim tiến triển hoặc rối loạn chức năng tim mạch không triệu chứng có cải thiện khi dùng phác đồ điều trị suy tim chuẩn bao gồm một thuốc ức chế men chuyển (ACE) hoặc một thuốc ức chế thụ thể angiotensin (ARB) và một thuốc chẹn β. Đa số bệnh nhân có triệu chứng về tim và có bằng chứng về lợi ích lâm sàng của Herceptin, tiếp tục điều trị Herceptin mỗi tuần mà không bị thêm một biến cố lâm sàng nào về tim mạch.
Ung thư vú di căn (MBC):
- Không nên điều trị kết hợp Herceptin và anthracyclin cho những bệnh nhân ung thư vú di căn.
Ung thư vú giai đoạn sớm (EBC):
- Với bệnh nhân ung thư vú giai đoạn sớm, đánh giá về tim mạch, được thực hiện như thời điểm ban đầu, nên thực hiện thường quy 3 tháng một lần trong thời gian điều trị và 6 tháng một lần sau khi ngưng điều trị cho tới khi đạt 24 tháng sau lần sử dụng Herceptin cuối cùng. Những bệnh nhân có sử dụng phác đồ hóa trị có anthracyclin thời gian theo dõi cần kéo dài hơn, bệnh nhân nên được đánh giá hàng năm trong 5 năm sau điều trị với Herceptin hoặc dài hơn nếu vẫn còn giảm LVEF.
- Bệnh nhân có tiền sử nhồi máu cơ tim (MI), đau thắt ngực cần thuốc, tiền sử hoặc đang mắc suy tim sung huyết (NYHA II-IV), các bệnh cơ tim khác, loạn nhịp tim cần phải dùng thuốc, bệnh van tim có biểu hiện lâm sàng, tăng huyết áp khó kiểm soát (tăng huyết áp được kiểm soát bằng thuốc tiêu chuẩn hội đủ điều kiện) và tràn dịch màng ngoài tim có ảnh hưởng tới huyết động, đã được loại trừ từ các thử nghiệm lâm sàng hỗ trợ điều trị ung thư vú bằng Herceptin.
Điều trị bổ trợ:
- Không nên điều trị kết hợp Herceptin và anthracyclin cho những bệnh nhân cần điều trị bổ trợ.
- Trên những bệnh nhân EBC sự gia tăng tỷ lệ mắc các biến cố tim mạch có triệu chứng và không có triệu chứng đã được phát hiện khi Herceptin IV được sử dụng sau khi điều trị với hóa trị liệu có chứa anthracycline so với điều trị với một phác đồ không anthracycline như là docetaxel và carboplatin. Tỷ lệ biến cố tăng hơn khi Herceptin được dùng đồng thời với taxane so với điều trị tiếp nối với taxane. Hầu hết các triệu chứng của các biến cố tim mạch xảy ra trong vòng 18 tháng đầu tiên, bất kể phác đồ nào được sử dụng.
- Các yếu tố nguy cơ của biến cố tim mạch được xác định trong bốn nghiên cứu bổ trợ lớn bao gồm, tuổi cao (> 50 tuổi), phân suất tống máu cơ sở thấp và giảm LVEF (< 55%), LVEF thấp trước khi hoặc sau khi bắt đầu điều trị paclitaxel, và điều trị Herceptin, trước hoặc đồng thời với sử dụng các thuốc trị tăng huyết áp. Ở những bệnh nhân được sử dụng Herceptin sau khi hoàn thành hóa trị liệu hỗ trợ, nguy cơ rối loạn chức năng tim cao hơn ở bệnh nhân có liều tích lũy của anthracycline cao trước khi bắt đầu với Herceptin và chỉ số khối cơ thể cao (BMI > 25 kg/m2).
Điều trị bổ trợ trước và sau phẫu thuật:
- Ở những bệnh nhân EBC hội đủ điều kiện điều trị bổ trợ trước phẫu thuật và sau phẫu thuật, Herceptin kết hợp với anthracycline nên được sử dụng thận trọng và chỉ nên dùng trên bệnh nhân chưa sử dụng hóa trị liệu. Liều tích lũy tối đa của phác đồ anthracycline liều thấp không nên vượt quá 180 mg/m2 (doxorubicin) hoặc 360 mg/m2 (epirubicin).
- Nếu bệnh nhân đã được điều trị đồng thời với anthracyclines liều thấp và Herceptin trong bổ trợ trước phẫu thuật, không nên sử dụng thêm hóa trị liệu độc tế bào sau khi phẫu thuật.
- Kinh nghiệm lâm sàng trong điều trị bổ trợ trước và sau phẫu thuật còn hạn chế ở những bệnh nhân trên 65 tuổi.
Benzyl alcohol:
- Benzyl alcohol, được dùng làm chất bảo quản trong nước pha tiêm có tính chất kìm khuẩn trong lọ đa liều 440 mg, có thể gây độc cho trẻ sơ sinh và trẻ 3 tuổi trở xuống. Khi dùng Herceptin cho bệnh nhân có tiền sử nhạy cảm với benzyl alcohol, nên pha Herceptin với nước để tiêm, và chỉ nên sử dụng một liều duy nhất từ mỗi lọ Herceptin. Bất cứ phần thuốc nào không sử dụng phải được hủy bỏ. Nước tinh khiết pha tiêm, dùng để pha lọ liều đơn 150 mg, không chứa benzyl alcohol.
Keo dính (đối với dụng cụ hỗ trợ tiêm Herceptin tiêm dưới da – Herceptin SC SID):
- Herceptin SC SID được gắn cố định với cơ thể bằng miếng keo dính. Vì vậy, đối với các bệnh nhân được biết là quá mẫn với keo dính (loại Acrylic 562), nên cân nhắc thay thế bằng lọ Herceptin tiêm dưới da.
Sử dụng ở những đối tượng đặc biệt
Sử dụng trên các bệnh nhân trẻ em:
- Tính an toàn và hiệu quả của Herceptin trên bệnh nhân trẻ em dưới 18 tuổi chưa được thiết lập.
Sử dụng trên bệnh nhân cao tuổi:
- Các dữ liệu cho thấy sự phân bố của Herceptin không bị thay đổi bởi tuổi tác (xem mục Dược lý – Dược động học)
Suy thận:
- Trong một phân tích dược động học quần thể, suy thận không ảnh hưởng đến sự phân bố của trastuzumab.
Phụ nữ mang thai và cho con bú
Phụ nữ mang thai:
- Nên tránh sử dụng Herceptin khi có thai trừ khi lợi ích cho người mẹ cao hơn hẳn các nguy cơ tiềm tàng cho thai. Trong các báo cáo sau bán hàng, các trường hợp tăng trưởng thận ở thai nhi và/ hoặc suy giảm chức năng có liên quan đến thiểu ối, một số gây giảm thể tích phổi ở thai nhi đã được báo cáo ở phụ nữ có thai điều trị với Herceptin. Phụ nữ có khả năng thụ thai cần được khuyến cáo về nguy cơ có thể đối với thai nhi. Nếu phụ nữ mang thai trong thời gian điều trị với Herceptin hoặc có thai trong khi điều trị với Herceptin hoặc trong vòng 7 tháng sau khi kết thúc điều trị Herceptin thì cần được theo dõi chặt chẽ bởi các bác sĩ chuyên khoa liên quan.
Phụ nữ cho con bú:
- Người ta cũng không biết liệu trastuzumab có tiết qua sữa mẹ hay không. Do IgG người được tiết qua sữa mẹ và những khả năng gây hại với nhũ nhi chưa được biết tới, nên tránh cho con bú trong khi điều trị với Herceptin và trong vòng 07 tháng kể từ lần dùng Herceptin cuối cùng (xem phần An toàn tiền lâm sàng).
Khả năng sinh sản:
- Người ta không biết Herceptin có ảnh hưởng đến khả năng sinh sản hay không. Các nghiên cứu trên động vật cho thấy không có bằng chứng về giảm khả năng sinh sản hoặc gây hại cho thai nhi.
Người lái xe và vận hành máy móc
- Nơi khô, tránh ánh sáng, nhiệt độ dưới 2-8°C.
Đánh Giá - Bình Luận
- Đặt đơn thuốc trong 30 phút. Gửi đơn
- Giao nhanh 2H nội thành HCM Chính sách giao hàng 2H.
- Mua 1 tặng 1 Đông Trùng Hạ Thảo Famitaa. Xem ngay
- Mua Combo giá tốt hơn. Ghé ngay
- Miễn phí giao hàng cho đơn hàng 700K
- Đổi trả trong 6 ngày. Chính sách đổi trả




